Skip to main content
Cập Nhật Pháp Lý

CẬP NHẬT 08 ÁN LỆ ÁP DỤNG TRONG XÉT XỬ TỪ NGÀY 01/7/2026

By 23 Tháng 7, 2026Không có bình luận

Ngày 29 tháng 5 năm 2026, Tòa án nhân dân (TAND) tối cao ban hành Quyết định số 162/QĐ-CA công bố thêm 08 Án lệ đã được Hội đồng thẩm phán TAND tối cao thông qua và được các tòa án áp dụng trong xét xử kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026. 08 Án lệ mới được ban hành theo Quyết định số 162/QĐ-CA bao gồm:

  • Án lệ số 90/2026/AL về thẩm quyền hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Tòa án;
  • Án lệ số 89/2026/AL về việc bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất đối với tài sản là nhà mua thanh lý để ở trên đất của cơ quan nhà nước;
  • Án lệ số 88/2026/AL về ủy quyền tham gia tố tụng trong vụ án tranh chấp về nuôi con;
  • Án lệ số 87/2026/AL về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm;
  • Án lệ số 86/2026/AL về sự kiện pháp lý làm phát sinh căn cứ để xem xét kháng nghị theo thủ tục tái thẩm;
  • Án lệ số 85/2026/AL về việc tham gia tố tụng của doanh nghiệp bảo hiểm thành viên theo hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm;
  • Án lệ số 84/2026/AL về chấm dứt việc nuôi con nuôi là người chưa thành niên khi người nhận con nuôi là người độc thân chết;
  • Án lệ số 83/2026/AL về trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm khi cơ quan có thẩm quyền chưa xác định được người gây ra thiệt hại về tài sản.

Bài viết này tập trung cập nhật khái quát 08 Án lệ trên.

1. Án lệ số 90/2026/AL về thẩm quyền hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Tòa án

Nguồn án lệ

              Quyết định giám đốc thẩm số 10/2024/HC-GĐT ngày 16/4/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao về vụ án hành chính “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa người khởi kiện là ông Trần Ngọc T với người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Q, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 7 người.

Tình huống án lệ

              Ngày 06/7/1999, ông Trần Ngọc T được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) thửa đất số 106/1. Cùng ngày, ông Nguyễn Văn T1 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) cũng được cấp GCNQSDĐ thửa đất số 106/2. Theo Sổ mục kê được Sở địa chính, Nguyên đơn và Nguyễn Văn T1 là đồng sử dụng thửa đất số 106. Ông Trần Văn D (con rể Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) là chủ sử dụng thửa đất số 119.

              Ngày 10/7/2009, ông D có đơn xin cấp GCNQSDĐ với các thửa đất số 109, 119, nguồn gốc đất ghi “đất do cha ông để lại” có diện tích 542m2 và được Bị đơn cấp GCNQSDĐ. Sau đó, vợ chồng ông D lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 542m2 trên cho vợ chồng ông Trần Văn T5. Văn phòng đăng ký đất đai đã chỉnh lý trên GCNQSDĐ việc chuyển nhượng.

              Nguyên đơn khởi kiện và ông T1 có Đơn yêu cầu độc lập yêu cầu TAND tỉnh hủy các quyết định hành chính về việc cấp GCNQSDĐ cho ông D, GCNQSDĐ do UBND cấp và phần quyết định của Văn phòng đăng ký đất đai vì cấp chồng lên diện tích đất gia đình ông đang sử dụng và đã được cấp GCNQSDĐ. Bị đơn thừa nhận điều này xuất phát từ việc cán bộ làm hồ sơ đánh nhầm số thửa đất.  

Nhận định của Tòa án

Tòa án cấp sơ thẩm hủy một phần quyết định cấp GCNQSDĐ cho ông D, hủy một phần GCNQSDĐ do UBND cấp và buộc UBND cấp lại GCNQSDĐ cho Nguyên đơn và ông T1, đồng thời xác định quyết định của Văn phòng không có giá trị pháp lý là có căn cứ.

Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, khoản 5 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, theo đó Nhà nước không thu hồi GCNQSDĐ trong trường hợp GCNQSDĐ cấp không đúng nhưng đã được chuyển nhượng là không hợp lý. GCNQSDĐ là quyết định hành chính và Hội đồng xét xử có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính trái pháp luật theo khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính.

Nội dung Án lệ

“[5] Tòa án cấp phúc thẩm cũng xác định việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông D, bà T4 là bị chồng lên phần đất của gia đình ông T, ông T2. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm lại không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần NgọcT và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T2, bà Trần Thị L2 với lý do: căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, khoản 5 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai thì Nhà nước không thu hồi GCNQSDĐ trong trường hợp GCNQSDĐ đã cấp không đúng nhưng người được cấp giấy chứng nhận đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đất đai … nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm là không đúng quy định của pháp luật. Bởi lẽ, GCNQSDĐ là quyết định hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Hội đồng xét xử trong phạm vi thẩm quyền của mình xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính và có quyền quyết định tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính. Mặt khác, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm sẽ dẫn đến việc tồn tại một lúc 03 GCNQSDĐ với cùng một diện tích 153m2 (GCNQSDĐ năm 1999 của hộ gia đình ông Trần Ngọc T, GCNQSDĐ năm 1999 của hộ gia đình ông Nguyễn Văn T1 (T2) và GCNQSDĐ năm 2017 của hộ gia đình ông Trần Văn D, bà Trần Thị T4, sau này chỉnh lý sang cho ông Trần Văn T5, bà Trần Thị T6) là không đúng.”

2. Án lệ số 89/2026/AL về việc bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất đối với tài sản là nhà mua thanh lý để ở trên đất của cơ quan nhà nước

Nguồn án lệ

              Quyết định giám đốc thẩm số 09/2023/HC-GĐT ngày 13/4/2023 về vụ án hành chính “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và yêu cầu bồi thường thiệt hại” của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao giữa người khởi kiện là ông Nguyễn Dực H với người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P, Ủy ban nhân dân huyện T1, tỉnh P; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 02 người.

Tình huống án lệ

              Vợ ông Nguyễn Dực H chuyển công tác đến TAND huyện T, tỉnh Vĩnh Phú (cũ), được cơ quan phân cho gian nhà làm việc và ở. Ông H đã xin cơ quan và được đồng ý làm thêm quán bán hàng và một số công trình phụ khác, đồng thời được TAND đồng ý bán 03 gian nhà đó trước khi TAND huyện T chuyển đến trụ sở mới. Sau đó, UBND huyện T1 ban hành Quyết định thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất do UBND huyện T quản lý, bao gồm khu đất có 03 gian nhà của Ông H. Ông H cho rằng các Quyết định trên là trái pháp luật, khởi kiện yêu cầu UBND huyện T1 bồi thường.

Nhận định của Tòa án

              Theo các Quyết định, việc UBND thực hiện thu hồi đất trụ sở cơ quan do TAND huyện T1 không còn nhu cầu sử dụng thuộc trường hợp không phải bồi thường về đất theo điểm a khoản 1 Điều 43 Luật Đất đai 2003. Do Nguyên đơn chỉ là người mua thanh lý tài sản, không phải mua tài sản gắn liền với đất nên không thuộc đối tượng được bồi thường về đất là có căn cứ. Mặc dù vậy, vì Nguyên đơn có tài sản trên đất, UBND huyện T1 phải thực hiện việc kiểm kê tài sản có trên đất bị thu hồi (nếu có) để đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn.

Nội dung Án lệ

              “[5] Mặc dù người bị thu hồi đất là Tòa án nhân dân huyện T1 nhưng ông H là người có tài sản trên đất (03 gian nhà thanh lý do mua hóa giá của Tòa án nhân dân huyện T); tại Quyết định bán thanh lý nhà ngày 20/4/1998 của Tòa án nhân dân huyện T có nội dung sau khi nộp tiền xong ông H có quyền sở hữu 03 gian nhà này, đồng thời tại Hợp đồng mua bán nhà thanh lý cùng ngày giữa Tòa án nhân dân huyện T và ông H cũng thể hiện các thủ tục

đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền do ông H chịu trách nhiệm. Do đó, có cơ sở để xác định việc nhận chuyển nhượng 03 gian nhà thanh lý của ông H không phải là mua bán vật liệu mà ông H mua với mục đích sử dụng để ở. 03 gian nhà này được ông H mua thanh lý trước thời điểm nhà nước có quyết định thu hồi đất của Tòa án nhân dân huyện T1 và trước khi có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại thị trấn H. Theo quy định tại khoản 3 Điều

43 Luật Đất đai năm 2003: “Người bị thu hồi đất quy định tại khoản 1 nhưng không thuộc khoản 2 Điều này được bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi” nên lẽ ra, sau khi có quyết định thu hồi đất, Ủy ban nhân dân huyện T1 phải thực hiện việc kiểm kê các tài sản của ông H để có cơ sở xem xét việc bồi thường hoặc hỗ trợ đối với các tài sản có trên đất bị thu hồi (nếu có) thì mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình ông H”.

3. Án lệ số 88/2026/AL về ủy quyền tham gia tố tụng trong vụ án tranh chấp về nuôi con

Nguồn án lệ

Bản án sơ thẩm số 34/2023/HNGĐ-ST ngày 08/6/2023 của TAND thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang về vụ án hôn nhân và gia đình “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” giữa Nguyên đơn là chị Lê Thái A với Bị đơn là anh Dương Văn L.

Tình huống án lệ

              Chị A và anh L đăng ký kết hôn được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nên yêu cầu ly hôn. Theo đó, chị A yêu cầu được nuôi 02 con chung và cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhận được hợp đồng ủy quyền giữa Nguyên đơn và chị N, theo đó chị N thay mặt và nhân danh chị A tham gia tố tụng, hòa giải, làm việc tại Tòa án các cấp về tranh chấp giành quyền nuôi con chung.

Nhận định của Tòa án

              Vì việc ủy quyền để yêu cầu giải quyết tranh chấp giành quyền nuôi con chung có liên quan đến quyền nhân thân theo Điều 39 Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Hôn nhân và gia đình, đồng thời mọi thỏa thuận của cha mẹ không được ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của con cái theo khoản 4 Điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Tòa án không chấp nhận chị N được tham gia tố tụng với tư cách bên được Nguyên đơn ủy quyền.

Nội dung Án lệ

              “[4] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ nhận được hợp đồng ủy quyền được công chứng ngày 20/10/2022 giữa chị Lê Thái A (bên ủy quyền) và chị Phạm Ngọc N1 (bên được ủy quyền), trong nội dung ủy quyền có thể hiện bên được ủy quyền được quyền thay mặt và nhân danh bên ủy quyền “Tham gia tố tụng, hòa giải, làm việc tại Tòa án nhân dân các cấp (sơ thẩm, phúc thẩm) đối với phần tranh chấp giành quyền nuôi con chung đối với bé Dương Lê An N, sinh ngày 25/1/2018 và bé Dương Minh K, sinh ngày 20/7/2019″;

đồng thời trong phạm vi ủy quyền nêu trên, bên được ủy quyền được toàn quyền quyết định tất cả các vấn đề có liên quan đến các nội dung được ủy quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định có liên quan đến hành vi ủy quyền. Căn cứ vào khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 “Người đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật Dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tổ tụng dân sự”. Căn cứ Điều 562 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

[5] Nhận thấy, việc ủy quyền để yêu cầu giải quyết tranh chấp giành quyền nuôi con chung có liên quan đến quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình, cụ thể là quan hệ cha, mẹ và con theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng như trong Luật Hôn nhân và gia đình. Đồng thời, căn cứ vào khoản 1 Điều 25 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”. Do đó, mặc dù theo khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ đề cập “Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tổ tụng”. Tuy nhiên, như đã đề cập việc tranh chấp giành quyền nuôi con chung trong vụ án hôn nhân và gia đình có liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân. Ngoài ra, khoản 4 Điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Mọi thỏa thuận của cha mẹ, con liên quan đến quan hệ nhân thân …. không được làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên … “. Bên cạnh đó, để giải quyết vấn đề con chung, quá trình giải quyết vụ án Hội đồng xét xử cũng cần thiết cân nhắc đến thái độ, tâm tư, tình cảm của cha, mẹ con. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận việc chị Phạm Ngọc N1 được tham gia tổ tụng, hòa giải, làm việc tại Tòa án cấp sơ thẩm với tư cách là bên được ủy quyền của chị Lê Thái A đối với phần tranh chấp giành quyền nuôi con chung Dương Lê An N, và Dương Minh K theo nội dung ủy quyền thể hiện tại hợp đồng ủy quyền được công chứng ngày 20/10/2022 giữa chị Lê Thái A (bên ủy quyền) và chị Phạm Ngọc N1 (bên được ủy quyền).”

4. Án lệ số 87/2026/AL về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm

Nguồn án lệ

Quyết định giám đốc thẩm số 30/2023/KDTM-GĐT ngày 29/12/2023 của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Hà Nội về vụ án kinh doanh, thương mại “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần A với Bị đơn là Công ty cổ phần hàng hải H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần đóng tàu Đ.

Tình huống án lệ

Năm 2013, Nguyên đơn và Bị đơn ký kết Hợp đồng tín dụng, theo đó, Nguyên đơn cho Bị đơn vay 23.331.000.000 đồng. Để bảo đảm khoản vay, Bị đơn thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay là tàu biển P 06 theo Hợp đồng thế chấp tàu biển. Tại thời điểm thế chấp, vì Tàu P 06 đã bị hư hỏng nghiêm trọng, Nguyên đơn và Bị đơn thỏa thuận để Công ty Đ (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) sửa chữa, trông giữ, nâng cấp Tàu P 06 thành Tàu vận tải biển R 268, nâng giá trị tài sản bảo đảm lên 45.638.000 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Bị đơn đã vi phạm các kỳ hạn trả nợ theo Hợp đồng tín dụng nên Nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Bị đơn trả tiền và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm. Công ty H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm. Công ty Đ có yêu cầu độc lập đòi Công ty H thanh toán chi phí sửa chữa, nâng cấp và trông giữ tàu, các khoản tiền lương công nhân, tiền thuế. Bị đơn thừa nhận lời trình bày của Nguyên đơn và Công ty Đ.

Tòa sơ thẩm và phúc thẩm đều buộc Công ty H trả nợ cho Nguyên đơn và trả chi phí cho Công ty Đ; đồng thời xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản thế chấp: ưu tiên trả trước tiền cho Công ty Đ, sau đó mới đến nợ gốc, lãi cho Nguyên đơn, phần còn thiếu (nếu có) mới tiếp tục trả cho Công ty Đ các khoản chi phí vật tư, khấu hao còn lại.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) cấp cao tại Hà Nội kháng nghị giám đốc thẩm, cho rằng việc ưu tiên thanh toán chi phí sửa chữa tàu trước là không đúng, gây thiệt hại, quyền lợi của Nguyên đơn, đề nghị hủy cả hai bản án để xét xử sơ thẩm lại.

Nhận định của Tòa án

Về quyết định kháng nghị, TAND tối cao nhận thấy Viện trưởng VKSND chỉ đề nghị giải quyết lại về thứ tự ưu tiên thanh toán, nhưng lại đề nghị hủy cả bản án phúc thẩm và sơ thẩm để giải quyết lại là không phù hợp.

Về thứ tự ưu tiên, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã viện dẫn Điều 307 Bộ luật Dân sự năm 2015 và điểm b khoản 12 Điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ-CP để xác định khi xử lý tài sản thế chấp thì ưu tiên thanh toán trước cho Công ty Đ các khoản tiền lương công nhân, tiền thuế và tiền trông giữ tàu là có căn cứ, hợp tình, hợp lý, vừa bảo đảm quyền lợi người lao động, vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước. Do đó, Hội đồng Thẩm phán không chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm của VKSND cấp cao, giữ nguyên bản án phúc thẩm.

Nội dung án lệ

“[6] Về thứ tự ưu tiên thanh toán, thấy rằng, việc sửa chữa nâng cấp và trông giữ Tàu R 268 giữa Công ty H và Công ty Đ là có thật; Ngân hàng biết và thống nhất việc Công ty H sửa chữa nâng cấp giá trị tàu. Cho đến khi xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, Công ty H chưa thanh toán cho Công ty Đ các khoản chi phí sửa chữa và trông giữ theo các hợp đồng đã ký. Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm đã viện dẫn quy định tại Điều 307 Bộ luật Dân sự năm 2015 và điểm b khoản 12 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 để quyết định khi xử lý tài sản thế chấp thì ưu tiên thanh toán trước cho Công ty Đ khoản chi phí là tiền lương công nhân, tiền thuế và tiền trông giữ tàu là có căn cứ, hợp tình, hợp lý, bảo đảm quyền lợi của người lao động, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước. Do đó, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm.”

5. Án lệ số 86/2026/AL về sự kiện pháp lý làm phát sinh căn cứ để xem xét kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Nguồn án lệ

              Quyết định tái thẩm số 05/2022/KDTM-TT ngày 25/02/2022 của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Hà Nội về vụ án kinh doanh, thương mại “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Q với bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty trách nhiệm hữu hạn H.

Tình huống án lệ

              Ngân hàng thương mại cổ phần Q và Công ty trách nhiệm hữu hạn T ký hợp đồng tín dụng, theo đó Nguyên đơn đồng ý cấp cho Bị đơn các khoản tín dụng với số tiền kèm theo. Nguyên đơn đã giải ngân cho Bị đơn với các khế ước nhận nợ. Tài sản bảo đảm cho khoản vay của Bị đơn gồm 02 quyền đòi nợ Công ty TNHH thương mại và xây dựng H và một số bất động sản khác. Quá trình thực hiện hợp đồng, Bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Nguyên đơn khởi kiện theo các khế ước nêu trên.

              Tòa án cấp sơ thẩm buộc Bị đơn trả cho Nguyên đơn số dư nợ theo hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, theo xác minh Cơ quan điều tra hình sự, sau khi ký kết hợp đồng, Bị đơn lập hồ sơ vay tiền của Nguyên đơn để mua phôi thép của Công ty S1 Việt Nam bán cho Công ty O nhưng Bị đơn không chuyển tiền để trả nợ trên thực tế. Cơ quan đã khởi tố vụ án và đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị với bản án sơ thẩm.

Nhận định của Tòa án

               Hành vi của Bị đơn là hành vi phạm tội, tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi nội dung cơ bản của Bản án sơ thẩm. Theo đó, quyết định khởi tố bị can và văn bản, tài liệu kèm theo nêu trên của Cơ quan điều tra là sự kiện pháp lý làm phát sinh căn cứ để xem xét kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án sơ thẩm. Do đó, cần hủy bản án cấp sơ thẩm để giao cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại.

Nội dung Án lệ

              “[1] Theo xác minh của Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng xác định, sau khi ký kết hợp đồng tín dụng số 29.11.066.899998.TD ngày 21/3/2011 với Ngân hàng Q, Công ty T đã lập hồ sơ vay tiền của Ngân hàng Q – Chi nhánh L thành phố Hà Nội mua phôi thép của Công ty S1 Việt Nam bán cho Công ty O. Thực tế, Công ty T đã không chuyển số tiền bán phôi thép vào tài khoản của Công ty T mở tại Ngân hàng Q để trả nợ cho Ngân hàng mà yêu cầu Công ty O chuyển tiền về tài khoản của Công ty T mở tại Ngân hàng B – Chi nhánh H2 để sử dụng vào mục đích khác nên có căn cứ xác định ông Đoàn Hồng D – Giám đốc Công ty T đã có hành vi gian dối trong việc trả nợ để chiếm đoạt của Ngân hàng Q số tiền 86.000.000.000 đồng nợ gốc. Ngày 26/9/2021, Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng ra quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can đối với Đoàn Hồng D và Nguyễn Thị Thanh S về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

[2] Như vậy, hành vi của ông Đoàn Hồng D được Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng xác định là hành vi phạm tội, đây là tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 15/2020/KDTM-ST ngày 22/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, là căn cứ để kháng nghị vụ án theo thủ tục tái thẩm. Do đó, cần hủy bản án kinh doanh, thương mại sơ thấm nêu trên theo thủ tục tái thẩm để giao cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại.”

6. Án lệ số 85/2026/AL về việc tham gia tố tụng của doanh nghiệp bảo hiểm thành viên theo hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm

Nguồn án lệ

              Bản án phúc thẩm số 64/2024/DS-PT ngày 03/6/2024 của TAND tỉnh Quảng Nam về vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” giữa Nguyên đơn là ông Lương Văn H với Bị đơn là Tổng Công ty bảo hiểm B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 02 người.

Tình huống án lệ

              Ông H ký hợp đồng bảo hiểm tàu cá với Công ty Bảo hiểm B1. Theo đó, trong một buổi xuất bến, khi đang di chuyển ra khơi, tàu ông H bất ngờ bị sóng biển đánh lớn khiến tàu bị vỡ be hai bên mũi, sau đó tàu chết máy và chìm dần. Ông H cho các thuyền viên lên thúng câu rời tàu và làm hồ sơ đề nghị Bị đơn chi trả tiền bảo hiểm tàu cá nhưng bị từ chối. Nguyên đơn khởi kiện buộc Bị đơn chi trả tiền theo hợp đồng bảo hiểm.

              Bản án sơ thẩm và phúc thẩm đều chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc Bị đơn trả số tiền bảo hiểm và tiền lãi kèm theo.

Nhận định của Tòa án

              Bị đơn cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không đưa các Công ty bảo hiểm thành viên vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Vì Bị đơn không đưa ra được bằng chứng Nguyên đơn ký kết hợp đồng bảo hiểm với các Công ty bảo hiểm thành viên, chỉ Bị đơn có nghĩa vụ giải quyết bồi thường, chi trả tiền bảo hiểm cho Nguyên đơn. Việc đưa các Công ty bảo hiểm thành viên vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không có cơ sở.

Nội dung Án lệ

              “[7] Bảo hiểm B cho rằng cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không đưa các Công ty bảo hiểm thành viên gồm Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, Bảo hiểm I vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, làm ảnh hưởng đến quyền, ích hợp pháp của các Công ty này.

[8] Hội đồng xét xử xét thấy, tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm Bảo hiểm B không cung cấp được cho Tòa án hợp đồng bảo hiểm ký kết giữa ông Lương Văn H với các Công ty bảo hiểm thành viên gồm Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, Bảo hiểm I và Bảo hiểm B. Hơn nữa, theo Hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm khai thác hải sản số 01/2014/ ĐBH và Biên bản thỏa thuận phương án đồng bảo hiểm khai thác hải sản số 01/2014 được ký giữa Bảo hiểm B và Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, bảo hiểm I thì Bảo hiểm B là doanh nghiệp bảo hiểm đứng đầu (Leader) tại địa bàn tỉnh Quảng Nam với tỷ lệ bảo hiểm là 55%; các Doanh nghiệp tham gia đồng bảo hiểm còn lại Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, Bảo hiểm I (Follower) với tỷ lệ bảo hiểm là 15%. Tại Điều 2, trong Hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm khai thác hải sản số 01/2014/ĐBH ghi rõ Trách nhiệm và quyền hạn của Công ty bảo hiểm đứng đầu (Leader) là Bảo hiểm B phải có nghĩa vụ ký hợp đồng bảo hiểm, giải quyết bồi thường, chi trả tiền bồi thường và có quyền yêu cầu các Công ty đồng bảo hiểm góp tiền bồi thường theo tỷ lệ đồng bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Trong vụ án này Bảo hiểm B ký hợp đồng bảo hiểm với ông Lương Văn H nên Bảo hiểm B phải có nghĩa vụ giải quyết bồi thường, chi trả tiền bồi thường cho ông Lương Văn H. Do vậy, Bảo hiểm B cho rằng cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không đưa các Công ty bảo hiểm thành viên gồm Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, Bảo hiểm I vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không có cơ sở chấp nhận.”.

“[10] Theo Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019 thì tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS của ông Lương Văn H được Công ty bảo hiểm B1 (thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm B) bảo hiểm, gồm: Thân vỏ tàu, máy móc và trang thiết bị với tổng giá trị bảo hiểm: 2.450.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng). Trong đó: Vỏ tàu là 1.500.000.000 đồng, máy móc là 450.000.000 đồng và trang thiết bị là 500.000.000 đồng; Bảo hiểm tai nạn thuyền viên: 3.220.000.000 đồng; thời hạn bảo hiểm kể từ 00 giờ 00 phút ngày 28/8/2019 đến 24 giờ 00 phút ngày 27/8/2020.

[11] Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019 đối với tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS là một dạng của hợp đồng bảo hiểm, đảm bảo về hình thức, nội dung, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 12, Điều 13, Điều 14 và Điều 15 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010 và năm 2019) nên phát sinh hiệu lực kể từ 00 giờ 00 phút ngày 28/8/2019 đến 24 giờ 00 phút ngày 27/8/2020 được ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019.”.

7. Án lệ số 84/2026/AL về chấm dứt việc nuôi con nuôi là người chưa thành niên khi người nhận con nuôi là người độc thân chết

Nguồn án lệ

              Quyết định giám đốc thẩm số 06/2024/DS-GĐT ngày 22/4/2024 của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc dân sự “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” giữa người yêu cầu là ông Ngô Thành M, bà Cao Thị G; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cháu Ngô Phát T.

Tình huống án lệ

              Ông M và bà G đăng ký kết hôn và có 3 người con là N, P và T. Theo đó, hai ông bà đồng ý cho bà T1 nhận cháu T làm con nuôi, được Chủ tịch UBND xã ra quyết định ghi nhận. Tuy nhiên, bà T1 ung thư và có nguyện vọng trả cháu T cho ông M bà G. Khi bà T1 chết, ông M và bà G yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi và khôi phục các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ với cháu T.

Nhận định của Tòa án

              Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm căn cứ Điều 25 và Điều 13 của Luật Nuôi con nuôi 2010 là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, vì cháu T mới 09 tuổi khi bà T1 chết, để đảm bảo cháu được chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ, cần căn cứ vào nguyên tắc của pháp luật quyền nhân thân khi quy định của pháp luật chưa điều chỉnh cho phép chấm dứt viẹc nuôi con nuôi trong trường hợp cha, mẹ nuôi chết. Theo đó, quyền nhận nuôi con nuôi sẽ mặc nhiên chấm dứt khi cá nhân đó chết. Vì vậy, việc ông M và bà G yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà T1 và cháu T là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 2, khoản 3 Điều 27 Luật Nuôi con nuôi năm 2010.

Nội dung Án lệ

              “[1] Ông Ngô Thành M và bà Cao Thị G đăng ký kết hôn ngày 12/8/2004 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Vợ chồng ông M và bà G có 03 (ba) người con chung, trong đó có cháu Ngô Phát T, sinh ngày 04/01/2011. Sau khi sinh cháu T, ông M và bà G đồng ý cho bà Ngô Ngọc T1 (là chị ruột của ông M) nhận cháu T làm con nuôi. Việc cho, nhận con nuôi đã được thực hiện đúng thủ tục và ghi nhận tại Quyết định số 18/QĐ-UBND ngày 28/01/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu.”.

“[3] Ngày 16/9/2020, bà T1 chết. Sau khi bà T1 chết, ông M và bà G có nguyện vọng đón cháu T về nuôi; đồng thời, xác lập lại mối quan hệ cha mẹ đẻ và con đẻ, nên đã nộp đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà T1 và cháu T. Vì sự kiện bà T1 chết không thuộc một trong các trường hợp chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định tại Điều 25 và Điều 13 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 nên Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông M và bà G là đúng quy định của pháp luật.

[4] Tuy nhiên, việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông M, bà G đã làm ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến quyền lợi của cháu Ngô Phát T … ”.

“[8] … Do đó, việc ông M và bà G yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Ngô Ngọc T1 và cháu Ngô Phát T là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 2, khoản 3 Điều 27 Luật Nuôi con nuôi năm 2010”.

8. Án lệ số 83/2026/AL về trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm khi cơ quan có thẩm quyền chưa xác định được người gây ra thiệt hại về tài sản

Nguồn án lệ

              Bản án phúc thẩm số 73/2023/DS-PT ngày 26/8/2023 của TAND tỉnh Quảng Nam về vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới” giữa nguyên đơn là ông Vương Ngọc A với bị đơn là Tổng công ty cổ phần bảo hiểm H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Hoàng U.

Tình huống án lệ

              Ngày 16/12/2018, Ông A và Công ty bảo hiểm H1 thuộc Tổng công ty cổ phần bảo hiểm H ký Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới, tài sản được bảo hiểm là xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger. Nguyên đơn đã nộp phí bảo hiểm và được Bị đơn chứng nhận.

              Ngày 16/07/2019, khi xe đang đậu tại bãi đỗ xe gần nhà thì bị bùng cháy phần đầu, hậu quả phần nhựa và cao su của phần đầu xe và khoan động cơ hầu như đều cháy, không có thiệt hại về người. Nguyên đơn liên hệ với Bị đơn đến giám định hiện trường. Sau đó, Nguyên đơn tiếp tục gửi đơn yêu cầu Bị đơn bồi thường nhưng bị từ chối với lý do phải đợi kết luận điều tra của Cơ quan. Vì vậy, Nguyên đơn đã kiện Bị đơn cố ý trì hoãn bồi thường, vi phạm nội dung Hợp đồng bảo hiểm đã ký và Quy tắc 80 của Công ty Bị đơn.

Nhận định của Tòa án

              Tòa án cấp sơ thẩm xét Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới có hiệu lực pháp luật, ông A là người thụ hưởng bảo hiểm theo Hợp đồng, đối tượng của Hợp đồng là sự kiện bảo hiểm đã phát sinh là có cơ sở.

              Theo khoản 1 Điều 13 Quy tắc số 80 của Công ty Bị đơn, Bị đơn không chịu trách nhiệm bồi thường bảo hiểm trong trường hợp “Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, người điều khiển xe và những người có quyền lợi liên quan đến chủ sở hữu, khai thác và sử dụng xe”. Theo Kết luận giám định và Kết luận giám định lại của cơ quan hình sự, ô tô bị cháy do con người gây ra. Vì chưa xác định được người gây ra vụ cháy nên, các tài liệu trong hồ sơ chưa chứng minh được việc xe bị cháy do hành động cố ý gây thiệt hại của A.

Vì vậy, trường hợp ông A không thuộc trường hợp loại trừ bảo hiểm.

Theo đó, việc ông A yêu cầu Bị đơn có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là có cơ sở. Tòa án bảo lưu quyền khiếu nại và chuyển quyền đòi bồi thường cho Bị đơn trong trường hợp có liên quan đến trách nhiệm của người thứ ba hoặc yêu cầu người được bồi thường trả lại tiền đã nhận bồi thường và bồi thường thiệt hại nếu họ có lỗi trong việc phát sinh sự kiện bảo hiểm theo khoản 8 Điều 7 Quy tắc 80, điểm e khoản 1 Điều 17, Điều 49 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Nội dung Án lệ

              “[10] Tại khoản 1 Điều 13 Quy tắc số 80 của Bảo hiểm H quy định: Bảo hiểm H không chịu trách nhiệm bồi thường bảo hiểm trong một số trường hợp, trong đó có trường hợp: “Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, người điều khiển xe và những người có quyền lợi liên quan đến sở hữu, khai thác và sử dụng xe.”.

[11] Theo Bản kết luận giám định số 788/C09C (Đ3, Đ4) ngày 14/8/2019 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và theo Kết luận giám định lại số 6995/C09 – P2 ngày 06/12/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an xác định xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, biển kiểm soát 92C-100.xx bị cháy là do con người gây ra. Do đó, ngày 20/12/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Núi Thành đã ra Quyết định khởi tố vụ án “Hủy hoại tài sản” số 03/QĐ đối với vụ việc trên, đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Nam để điều tra, xử lý theo thẩm quyền. Do chưa xác định được ai là người gây ra vụ cháy nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Nam ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Đến nay Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Quảng Nam chưa có kết luận điều tra vụ án về việc xe ô tô bị cháy, chưa xác định được ai là người phá hoại nên không có cơ sở xác định có hay không “Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, người điều khiển xe và những người có quyền lợi liên quan đến sở hữu, khai thác và sử dụng xe” như khoản 1 Điều 13 Quy tắc số 80 đã quy định; hơn nữa, tại khoản 8 Điều 7 Quy tắc số 80, điểm e khoản 1 Điều 17, Điều 49 Luật Kinh doanh bảo hiểm đã quy định rõ việc bảo lưu quyền khiếu nại và chuyển quyền đòi bồi thường cho Bảo hiểm H trong trường hợp có liên quan đến trách nhiệm của người thứ ba hoặc yêu cầu người được bồi thường trả lại tiền đã nhận bồi thường và bồi thường thiệt hại nếu họ có lỗi trong việc phát sinh sự kiện bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Do đó, có thể thấy quyền lợi của Bảo hiểm H luôn được bảo đảm ngay cả trong trường hợp sau khi chi trả tiền bồi thường cho ông A mà Cơ quan điều tra kết luận, xác định được người thứ ba hoặc chính ông A có lỗi trong việc xe ô tô bị cháy. Như vậy, trường hợp của ông A không thuộc trường hợp loại trừ bảo hiểm theo khoản 1 Điều 13

Quy tắc số 80″./.