Cập Nhật Pháp LýTiếng Việt

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT TỔ CHỨC TÒA ÁN NHÂN DÂN NĂM 2024

By 11 Tháng 1, 2025Không có bình luận

Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 24/6/2024 và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2025 (sau đây gọi tắt là “Luật TCTAND năm 2024”). Luật TCTAND năm 2024 đã có những thay đổi, bổ sung về mặt hình thức cũng như về mặt nội dung so với Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (sau đây gọi tắt là “Luật TCTAND năm 2014”) với một số điểm nổi bật sau đây:

Về hình thức

Luật TCTAND năm 2024 được bố cục thành 09 chương với 152 Điều. So với Luật TCTAND năm 2014, Luật TCTAND năm 2024 giảm 02 chương và tăng 54 Điều. Luật TCTAND năm 2024 đã bám sát mục đích, quan điểm chỉ đạo và cụ thể hóa 06 nhóm chính sách đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 89/2023/QH15 ngày 02/6/2023. Bố cục cụ thể như sau:

  • Chương I: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 22);
  • Chương II: Nhiệm vụ, quyền hạn của các Tòa án (từ Điều 23 đến Điều 38);
  • Chương III: Hội đồng Tuyển chọn, giám sát thẩm phán Quốc gia (từ Điều 39 đến Điều 45);
  • Chương IV: Tổ chức bộ máy (từ Điều 46 đến Điều 72);
  • Chương V: Cán bộ, Công chức, Viên Chức và Người lao động trong Tòa án nhân dân (từ Điều 73 đến Điều 129);
  • Chương VI: Hội thẩm (từ Điều 121 đến Điều 134);
  • Chương VII: Tổ chức xét xử (từ Điều 135 đến Điều 141);
  • Chương VIII: Bảo đảm hoạt động của Tòa án nhân dân (từ Điều 142 đến Điều 149);
  • Chương IX: Điều khoản thi hành (từ Điều 150 đến Điều 152).

Về nội dung

Luật TCTAND 2024 kế thừa những quy định của Luật TCTAND năm 2014 còn phù hợp, đồng thời, sửa đổi, bổ sung nhiều quy định nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn mới, với một số điểm nổi bật như sau:

Bỏ thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Tòa án

Luật TCTAND 2024 đã bỏ quy định Tòa án có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự tại phiên tòa((Luật TCTAND 2024:

Điều 150. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của luật có liên quan 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15 như sau:

a) Sửa đổi khoản 4 Điều 153 như sau:

“4. Hội đồng xét xử yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.”)). Thay vào đó tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì thực hiện quyền kiến nghị với Viện kiểm sát để cơ quan này ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Tại Luật TCTAND năm 2014, Tòa án trong khi thực hiện nhiệm vụ xét xử có quyền khởi tố vụ án hình sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm((Luật TCTAND 2014 Điều 2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân

3. Khi thực hiện nhiệm vụ xét xử vụ án hình sự, Tòa án có quyền:

…d) Yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác trình bày về các vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa; khởi tố vụ án hình sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm….)). Việc loại bỏ quyền hạn này của Tòa án xuất phát từ lý do: “Toà án là cơ quan xét xử nếu ra quyết định khởi tố vụ án hình sự sau đó lại xét xử vụ án do mình khởi tố sẽ không vô tư, khách quan, làm thay cơ quan hành pháp, không phù hợp với nguyên tắc tranh tụng và trên thực tế là không hiệu quả”((Mục 2 Phần V Tờ trình về Dự án Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) (Dự thảo 4), https://vbpq.toaan.gov.vn/webcenter/portal/htvb/chi-tiet-vbdt?dDocName=TAND312484)). Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Tòa án thực hiện quyền khởi tố vụ án hình sự là không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất. Do đó, Luật TCTAND năm 2024 bỏ quyền khởi tố vụ án hình sự của Tòa án không những đảm bảo sự khách quan, vô tư trong hoạt động xét xử của Tòa án mà còn phù hợp với quy định của Hiến pháp.

Bổ sung thêm quy định để củng cố nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Luật TCTAND năm 2024 đã bổ sung thêm quy định: (i) Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm và người có chức danh tư pháp khác của Tòa án không phải giải trình, không được thông tin về quan điểm xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc đang trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, vụ việc đó (khoản 2 Điều 11); và (ii)  Không điều tra đối với Thẩm phán, Hội thẩm về việc xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc đang trong quá trình tố tụng, trừ trường hợp có căn cứ xác định Thẩm phán, Hội thẩm vi phạm pháp luật hình sự trong xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc đó (khoản 3 Điều 11).

Việc bổ sung quy định nêu trên đã phần nào củng cố thêm vai trò và vị trí của Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm và người có chức danh tư pháp khác của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án là sự khẳng định các đối tượng nêu trên luôn độc lập, khách quan và chỉ tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ việc. Đồng thời, quy định không điều tra đối với Thẩm phán, Hội thẩm về việc xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc đang trong quá trình tố tụng, trừ trường hợp có căn cứ xác định Thẩm phán, Hội thẩm vi phạm pháp luật hình sự trong xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc đó được coi như là một cơ chế bảo vệ Thẩm phán, Hội thẩm trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo luật định((Ths Phan Thành Nhân (Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp), Hoàn thiện cơ chế bảo vệ Thẩm phán trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo luật định, https://tapchitoaan.vn/hoan-thien-co-che-bao-ve-tham-phan-trong-thuc-hien-chuc-nang-nhiem-vu-theo-luat-dinh11990.html))

Thành lập Tòa án nhân sơ thẩm chuyên biệt

Bên cạnh hệ thống tổ chức của Tòa án nhân dân hiện hành, Luật TCTAND năm 2024 đã bổ sung quy định trong hệ thống Tòa án có các Tòa án nhân dân sơ thẩm chuyên biệt để xét xử một số loại án đặc thù, thể chế hóa chủ trương được nêu tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng “xây dựng Tòa án chuyên nghiệp”; Nghị quyết số 755/NQ-UBTVQH15 ngày 27/3/2023 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “bổ sung, hoàn thiện pháp luật, tổ chức bộ máy phù hợp để đáp ứng yêu cầu giải quyết các vụ án, vụ việc có tính chất đặc thù như phá sản, sở hữu trí tuệ, tư pháp đối với người chưa thành niên…” và Nghị quyết kỳ họp thứ hai, thứ tư Quốc hội khóa 15 về “nâng cao chất lượng giải quyết án hành chính”((Mục 3 Phần V Tờ trình về Dự án Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) (Dự thảo 4), https://vbpq.toaan.gov.vn/webcenter/portal/htvb/chi-tiet-vbdt?dDocName=TAND312484)). Theo đó, hệ thống tổ chức của Tòa án nhân dân được bổ sung thêm: (i) Tòa án nhân dân sơ thẩm chuyên biệt Hành chính; (ii) Tòa án nhân dân sơ thẩm chuyên biệt Sở hữu trí tuệ; và (iii) Tòa án nhân dân chuyên biệt Phá sản. Việc thành lập các Tòa án sơ thẩm chuyên biệt sẽ do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định trên cơ sở đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, tùy thuộc vào tình hình thực tế. Các Tòa án nhân dân sơ thẩm chuyên biệt được thành lập sẽ bảo đảm tính chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động; phát huy trình độ chuyên môn sâu của Thẩm phán, Hội thẩm trong xét xử, từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết các loại việc này.

Cũng theo Luật TCTAND năm 2024, Tòa án nhân dân sơ thẩm chuyên biệt Hành chính có nhiệm vụ, quyền hạn sơ thẩm vụ án hành chính đối với khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước từ cấp tỉnh trở lên, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 62 của Luật TCAND năm 2024; khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức từ cấp tỉnh trở lên theo quy định của Luật Tố tụng hành chính (Điểm a khoản 1 Điều 62 Luật TCAND năm 2024); Tòa án nhân dân sơ thẩm chuyên biệt Sở hữu trí tuệ có nhiệm vụ, quyền hạn sơ thẩm vụ việc về sở hữu trí tuệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; sơ thẩm vụ án hành chính về sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính (Điểm a khoản 2 Điều 62 Luật TCAND năm 2024); Tòa án nhân dân chuyên biệt Phá sản có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo quy định của luật (Điểm a khoản 3 Điều 62 Luật TCAND năm 2024). Hiện nay, tại khoản 4 Điều 26((BLTTDS 2015

Điều 26. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

…4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này.)) và khoản 2 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015((BLTTDS 2015

Điều 30. Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

…2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.)) tại Điều 32 Luật tố tụng hành chính năm 2015((Luật tố tụng hành chính 2015 Điều 32. Thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:

1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính.

2. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan thuộc một trong các cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính.

3. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án và của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó”. […])) và tại Điều 8 Luật Phá sản 2014((Luật Phá sản năm 2014

Điều 8. Thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân

1. Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã tại tỉnh đó và thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Vụ việc phá sản có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài;

b) Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có chi nhánh, văn phòng đại diện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;

c) Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;

d) Vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết do tính chất phức tạp của vụ việc.

2. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này”.)) đã có những quy định cụ thể về thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân đối với các vụ việc nêu trên và đang được thực hiện trên thực tế nên trong thời gian tới các cơ quan có thẩm quyền cần xem xét, ban hành các quy định liên quan để hướng dẫn việc chuyển giao thẩm quyền giải quyết các vụ việc chuyên biệt, đặc biệt là đối với các vụ việc đang được xem xét giải quyết nhằm tránh tranh chấp về thẩm quyền.

Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân cấp cao đối với việc giải quyết đề nghị, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định về việc phá sản của Tòa án nhân dân chuyên biệt Phá sản

Luật TCTAND năm 2024 bổ sung thêm thẩm quyền giải quyết đề nghị, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định về việc phá sản của Tòa án nhân dân chuyên biệt Phá sản thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ theo quy định của luật đối với Tòa án nhân dân cấp cao((Khoản 2 Điều 50 Luật TCTAND năm 2024)). Việc bổ sung quy định này là nhằm cụ thể hóa quy định mới của Luật TCTAND năm 2024 về việc thành lập thêm Tòa án nhân dân chuyên biệt Phá sản vào hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân.

Tuy nhiên, Luật TCTAND năm 2024 lại không có giải thích cụ thể thế nào là quyết định về việc phá sản sẽ dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Cách hiểu thứ nhất quyết định về việc phá sản sẽ bao gồm các quyết định như Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản; Quyết định chỉ định hoặc thay đổi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; Quyết định việc thực hiện kiểm toán doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong trường hợp cần thiết; Quyết định việc bán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán sau khi mở thủ tục phá sản để bảo đảm chi phí phá sản; Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật; Quyết định công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh; Quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản; Quyết định tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán. Cách hiểu thứ hai quyết định về việc phá sản sẽ chỉ là Quyết định tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán. Từ hai cách hiểu khác nhau này có thể sẽ gây khó khăn trong quá trình áp dụng của Tòa án, cụ thể: Đối với quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản theo Điều 44 Luật Phá sản năm 2014 thì thẩm quyền xem xét lại, giải quyết kháng nghị là Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết; Đối với quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản theo quy định tại Điều 86 Luật Phá sản năm 2014 thì do Chánh án Tòa án nhân dân đang giải quyết thủ tục phá sản phải xem xét, giải quyết kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản. Nếu hiểu theo cách thứ nhất thì đối với các quyết định như Quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, Tòa án chuyên biệt Phá sản hay Tòa án nhân dân cấp cao sẽ là cơ quan có thẩm quyền giải quyết kiến nghị về quyết định này. Do đó, Luật phá sản năm 2014 trong thời gian tới cần có sự sửa đổi, bổ sung để giải thích cụ thể về quy định nêu trên.

Ngạch của Thẩm phán

Luật TCTAND năm 2024 đã sửa đổi quy định về ngạch của Thẩm phán. Theo đó, Thẩm phán gồm các ngạch sau đây: (i) Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; và (ii) Thẩm phán Tòa án nhân dân. Hiện nay, ngạch của Thẩm phán theo quy định hiện hành gồm: (i) Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; (ii) Thẩm phán cao cấp; (iii) Thẩm phán trung cấp; và (iv) Thẩm phán sơ cấp.

Theo Tòa án nhân dân tối cao lý giải việc sửa đổi này cụ thể như sau: “Việc quy định hai ngạch Thẩm phán nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của quy định hiện hành, nâng cao sự tín nhiệm của người dân đối với Thẩm phán công tác tại Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm; nâng cao uy tín nghề nghiệp của Thẩm phán đối với công chúng; khuyến khích Thẩm phán chuyên tâm phấn đấu cho hoạt động xét xử để trở thành các chuyên gia có trình độ cao”((Mục 4 Phần V Tờ trình về Dự án Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) (Dự thảo 4), https://vbpq.toaan.gov.vn/webcenter/portal/htvb/chi-tiet-vbdt?dDocName=TAND312484))

Share