Cập Nhật Pháp Lý

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI TRONG LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 2025

By 12 Tháng 2, 2026Tháng 6 13th, 2026Không có bình luận

Ngày 05/12/2025, Quốc hội Khoá XV đã thông qua Luật thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 (“Luật THADS 2025”) với 05 chương và 116 Điều (giảm 04 chương và 64 điều so với luật năm 2008), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2026, trừ một số điều khoản có hiệu lực từ ngày 20/01/2026.[1] Đây là lần sửa đổi, bổ sung lớn đầu tiên sau 17 năm thi hành Luật THADS 2008. Theo đó, Luật THADS 2025 đã bổ sung các quy định nhằm tăng cường hiệu quả quản lý, minh bạch hóa thủ tục thông qua việc áp dụng các giải pháp chuyển đổi số và đơn giản hóa thủ tục thi hành án. Ngoài ra, Luật THADS 2025 cũng đã sửa đổi các quy định liên quan đến việc thi hành các quyết định liên quan đến trọng tài thương mại, nhằm thúc đẩy việc thi hành được thuận lợi. Bản cập nhật pháp lý này sẽ cung cấp tổng quan một số sửa đổi, bổ sung của Luật THADS 2025:

  1. Luật THADS 2025 đã làm rõ phạm vi quyết định được thi hành của Hội đồng trọng tài theo quy định của Luật Trọng tài thương mại

Đối với các phán quyết, quyết định của “Trọng tài Việt Nam”[2], Khoản 3 Điều 2 Luật THADS 2025 đã đưa ra một sửa đổi quan trọng khi quy định rõ chỉ có “Phán quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài theo quy định của Luật Trọng tài thương mại” mới được coi là “bản án, quyết định được thi hành”.

Luật THADS 2025 đã điều chỉnh bổ sung quy định nhằm đảm bảo tinh thống nhất, đồng bộ với các quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010 và thu hẹp đối tượng “quyết định” của trọng tài thương mại được thi hành theo Luật THADS.[3] Trước đó, việc thi hành đối với các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời liên quan đến trọng tài thương mại chỉ được đề cập tại Luật Trọng tài thương mại,[4] mà không được ghi nhận một cách cụ thể tại Luật THADS.[5] Luật THADS 2008 (được sửa đổi 2014) chỉ ghi nhận một cách chung chung là “phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại” được coi là “bản án, quyết định được thi hành”. Trong khi đó, trong tố tụng trọng tài thương mại, Hội đồng trọng tài có thể ban hành nhiều các quyết định, phổ biến nhất là các Quyết định về các vấn đề thủ tục tố tụng (ví dụ như quyết định về thời gian, địa điểm tổ chức phiên họp), không phải là quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nói riêng hay các quyết định có thể được thi hành theo Luật THADS. Tuy nhiên, quy định của Luật THADS 2025 đã làm rõ rằng, chỉ có quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài mới được thi hành theo pháp luật thi hành án dân sự.

  • Luật THADS 2025 bổ sung quy định cho phép cơ quan thi hành án được quyền gửi lại yêu cầu thi hành án trong trường hợp việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành

Khoản 4 Điều 38 Luật THADS 2025 có quy định về vấn đề “gửi lại yêu cầu thi hành án” sau khi có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án như sau:

“Điều 38. Việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành

[…]

4. Hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh theo quy định tại khoản 3 Điều này mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu thi hành án. Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành án trở lại theo quy định tại Điều 34 của Luật này khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành hoặc có quyền yêu cầu văn phòng thi hành án dân sự thi hành án theo quy định tại Điều 31 của Luật này.”

Đây là giải pháp nhằm giảm tình trạng án tồn đọng, xử lý những vụ việc thi hành án kéo dài nhiều năm mà trước đây cơ quan THADS vẫn phải theo dõi, xác minh định kỳ gây lãng phí nguồn lực. Liên quan đến vấn đề trên, trước khi Luật THADS 2025 được ban hành, theo khoản 5 Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP quy định đối với những vụ việc đã ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án thì “Cơ quan thi hành án dân sự  chuyển sang sổ theo dõi riêng đối với việc chưa có điều kiện thi hành án trong thời hạn 03 ngày làm việc”. Quy định này đã vô tình tạo ra tình trạng các vụ việc thi hành án bị tồn đọng trong thời gian dài mà không có cơ chế giải quyết dẫn đế hệ quả là Nhà nước vẫn phải đảm bảo nhân lực, vật lực để theo dõi, xác minh định kỳ, gây lãng phí ngân sách. Do đó, việc Luật THADS 2025 bổ sung quy định cho phép cơ quan THADS có quyền “gửi lại yêu cầu thi hành án” đã góp phần khắc phục những bất cập, vướng mắc đối với các vụ việc chưa có điều kiện thi hành. Mặt khác, quy định này không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người yêu cầu thi hkhông làm chấm dứt quyền yêu cầu thi hành án của người được thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án trở lại.

  • Luật THADS 2025 đã làm rõ quy định về việc xử lý tài sản của người phải thi hành án mà bản án, quyết định tuyên kê biên để đảm bảo thi hành án

Khoản 2 Điều 60 Luật THADS 2025 đã bổ sung quy định về việc xử lý tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để đảm bảo thi hành án trong trường hợp hiện trạng tài sản thực tế khác với biên bản kê biên, lệnh kê biên, quyết định kê biên hoặc giấy tờ đăng ký quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất. Cụ thể, trong trường hợp này, trước khi thực hiện thủ tục thẩm định giá, xác định giá, bản tài sản theo quy định, cơ quan THADS phải đề nghị cơ quan đã kê biên giải thích. Căn cứ vào kết quả giải thích cơ quan THADS xử lý theo các hướng sau:

  • Đề nghị Tòa án giải thích hoặc kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong trường hợp việc kê biên không đúng hiện trạng tài sản thực tế; hoặc
  • Xử lý theo hiện trạng tài sản thực tế đối với trường hợp có căn cứ xác định tài sản bị kê biên thay đổi hiện trạng sau khi bị kê biên hoặc không nhận được văn bản trả lời của Tòa án.

Điều 127 Luật THADS 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) cũng có quy định về việc xử lý tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để đảm bảo thi hành án theo hướng định giá tài sản đã bị kê biên và bán tài sản kê biên. Việc áp dụng quy định này sẽ dẫn đến trường hợp tài sản bị kê biên để đảm thi hành án sẽ được xử lý theo hướng duy nhất là xử lý theo hiện trạng thực tế của tài sản.

Luật THADS 2025 đã bổ sung quy định này nhằm mục đích góp phần khắc phục được tình trạng nhiều vụ việc sau khi thi hành án xong bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm do có vi phạm nghiêm trọng tố tụng (thực hiện việc kê biên tài sản không đúng quy định) hoặc phát sinh tình tiết mới dẫn đến tình trạng bản án, quyết định bị hủy để giải quyết lại. Khi bản án, quyết định của Tòa án bị hủy thì cũng phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án. Việc giải quyết hậu quả của việc thi hành án đối với trường hợp này, có thể gặp phải nhiều khó khăn, đặc biệt là những tài sản đã được chuyển giao cho người thứ ba hoặc tài sản đã được sử dụng (tài sản bị kê biên là vật tiêu hao).

  • Luật THADS 2025 đẫ bổ sung các quy định nhằm xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự

Xã hội hóa hoạt động THADS đã được đề ra ở các Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và là Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương. Tiếp tục thực hiện xã hội hóa hoạt động THADS, Luật THADS 2025 đã có những thay đổi về quy định liên quan đến chế định Thừa phát lại và Văn phòng Thừa phát lại như sau:

Thứ nhất, đổi tên chức danh “Thừa phát lại” thành “Thừa hành viên” và “Văn phòng Thừa phát lại” thành “Văn phòng Thi hành án dân sự”.[6]

Thứ hai, Thừa phát lại (Thừa hành viên) được Luật THADS 2025 chính thức ghi nhận công việc được làm là “tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự”[7] trong văn bản pháp luật chuyên ngành về thi hành án dân sự. Cụ thể, theo khoản 4 Điều 3 Nghị định 08/2020/NĐ-CP đã có quy định về các công việc Thừa phát lại được làm, bao gồm: “Tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan”. Tuy nhiên tại thời điểm Nghị định 08/2020/NĐ-CP được ban hành và có hiệu lực, pháp luật liên quan đến thi hành án không ghi nhận Thừa phát lại được tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự. Do đó, cơ quan thi hành án dân sự vẫn là cơ quan duy nhất tổ chức việc thi hành án dân sự (cả thi hành án chủ động và thi hành án theo yêu cầu).

Thứ ba, Văn phòng thừa phát lại (Văn phòng thi hành án dân sự) cũng được ghi nhận rõ ràng quyền “tổ chức thi hành bản án, quyết định” tại khoản 1 Điều 27 Luật THADS 2025. Trước đây, tại khoản 1 Điều 18 của Nghị định 08/2020/NĐ-CP chưa có sự ghi nhận rõ ràng về quyền hạn này của Văn phòng thừa phát lại.[8]

Việc giao thêm nhiệm vụ, quyền hạn cho Thừa phát lại và Văn phòng Thừa phát lại trong việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự không dẫn đến sự thay đổi nhiều về điều kiện bổ nhiệm Thừa hành viên và điều kiện thành lập Văn phòng Thi hành án dân sự, cụ thể:

  • Đối với điều kiện để được bổ nhiệm Thừa hành viên thì vẫn phải đáp ứng các điều kiện tiên quyết như là công dân Việt Nam, có trình độ cử nhân luật trở lên, được đào tạo nghiệp vụ Thừa hành viên và một số tiêu chuẩn khác, tương tự như quy định tại Điều 6 Nghị định 08/2020/NĐ-CP.[9]
  • Đối với Văn phòng Thi hành án dân sự, điều kiện quan trọng để được thành lập là có ít nhất 01 Thừa hành viên, tương tự như đối với quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định 08/2020/NĐ-CP. Tuy nhiên, Luật THADS 2025 đã bổ sung thêm điều kiện đối với Thừa hành viên tham gia thành lập Văn phòng Thi hành án dân sự phải đáp ứng yêu cầu đã hành nghề từ đủ 02 năm trở lên.[10]
  • Luật THADS 2025 bổ sung quy định về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thi hành án dân sự

Thể chế hóa Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, Luật THADS 2025 đã bổ sung nhiều quy định ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS,[11] bao gồm: (i) quy định về chuyển đổi số trong thi hành án dân sự (“văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin liên quan đến thi hành án dân sự được lập dưới dạng thông điệp dữ liệu, ký số, gửi, nhận, lưu trữ, xử lý, chia sẻ trên môi trường số bảo đảm theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý như văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin dưới dạng giấy”.);[12] (ii) quy định về hình thức thông báo thi hành án trên môi trường số;[13] (iii) quy định về hình thức xác minh thi hành án trên môi trường số;[14] (v) quy định về hình thức thanh toán tiền thi hành bằng hình thức chuyển khoản.[15]

Việc bổ sung các quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số là bước ngoặt, tạo thuận lợi cho cơ quan thi hành án dân sự, Văn phòng Thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Thừa hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án, góp phần nhằm đáp ứng được mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị.


[1] Cụ thể là Khoản 9 Điều 3; Điều 5; điểm g khoản 2 Điều 11; điểm đ khoản 2 Điều 12; khoản 8 và khoản 9 Điều 20; khoản 7 và khoản 8 Điều 21 và khoản 8 Điều 27 Luật THADS 2025.

[2] Phán quyết, quyết định không phải do Trọng tài nước ngoài tuyên.

[3] Ví dụ: điểm h, khoản 1 Điều 32 Luật THADS 2025 quy định:

“Điều 32. Thẩm quyền thi hành án

1. Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:

[…]

h) Phán quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;”

[4] Khoản 5 Điều 50 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định: “Việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.”

Điều 26 Nghị định 63/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28/7/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại quy định: “Việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định thay đổi, áp dụng bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự về thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án.”.

[5] Khoản 2 Điều 1 Luật Thi hành án dân sự số 64/2014 ngày 25/11/2014 bổ sung điểm g Khoản 1 Điều 2 của Luật thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 ngày 14/11/2008, quy định “Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại” được thi hành theo quy định.

[6] Khoản 5 Điều 116 Luật THADS 2025 quy định:

“Điều 116. Điều khoản chuyển tiếp

[…]

5. Thừa phát lại được bổ nhiệm trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hoạt động, không cần bổ nhiệm lại nhưng phải đổi thẻ Thừa hành viên trước ngày 01 tháng 7 năm 2027 theo quy định của Chính phủ.

Văn phòng thừa phát lại được thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hoạt động nhưng phải thực hiện thủ tục đổi tên thành “văn phòng thi hành án dân sự” trước ngày 01 tháng 7 năm 2027 theo quy định của Chính phủ.

Kết quả thực hiện việc tổ chức thi hành án của văn phòng thừa phát lại, Thừa phát lại được thực hiện theo quy định của pháp luật trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được công nhận và không phải thực hiện lại theo quy định của Luật này.

Văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên tiếp tục thực hiện các công việc của văn phòng thừa phát lại, Thừa phát lại theo quy định của pháp luật”.

[7] Điểm a khoản 1 Điều 30 Luật THADS 2025.

[8] Khoản 1 Điều 18 Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định như sau:

“Điều 18. Quyền và nghĩa vụ của Văn phòng Thừa phát lại

1. Văn phòng Thừa phát lại có các quyền sau đây:

a) Ký hợp đồng lao động với Thừa phát lại, thư ký nghiệp vụ làm việc cho Văn phòng mình;

b) Thu, quản lý, sử dụng chi phí thực hiện công việc của Thừa phát lại theo quy định của pháp luật;

c) Ký hợp đồng, thỏa thuận với người yêu cầu theo quy định của Nghị định này;

d) Các quyền khác theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan”.

[9] Khoản 2 Điều 29 Luật THADS 2025.

[10] Khoản 3 Điều 26 Luật THADS 2025.

[11] https://baochinhphu.vn/9-diem-moi-co-ban-cua-luat-thi-hanh-an-dan-su-sua-doi-102251222093940066.htm

[12] Điều 5 Luật THADS 2025.

[13] Điểm a khoản 3 Điều 35 Luật THADS 2025.

[14] Khoản 3 Điều 37 Luật THADS 2025.

[15] Khoản 6 Điều 54 Luật THADS 2025.

Share