Cập Nhật Pháp LýTin Tức

[LEGAL UPDATE_TEAM COR.] Điểm mới Luật Thuế TNCN: 5 bậc thuế mới, giảm trừ gia cảnh tăng mạnh, thu nhập số vào diện chịu thuế

By 22 Tháng 12, 2025Không có bình luận

Ngày 10 tháng 12 năm 2025, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi) (“Dự Thảo Luật Sửa Đổi”) với trên 92% đại biểu tham gia biểu quyết tán thành. Luật mới thông qua được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hộ, cá nhân kinh doanh, cũng như đảm bảo tính minh bạch và thực thi hiệu quả trong bối cảnh xã hội hiện tại. Dự Thảo Luật Sửa Đổi sẽ tiếp tục được rà soát chỉnh lý về ngôn ngữ và thể thức để hoàn thiện dự thảo luật trình Quốc hội, và sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2026.

Dưới đây là một số nội dung được sửa đổi, bổ sung đáng chú ý trong  Dự Thảo Luật Sửa Đổi:

  1. Bổ sung nhóm thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân (“TNCN”)

Dự Thảo Luật Sửa Đổi kế thừa từ luật hiện hành các quy định chung về thu nhập chịu thuế, bao gồm các loại thu nhập từ kinh doanh, tiền lương tiền công, đầu tư, chuyển nhượng tài sản và các thu nhập khác. Để phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội và “bắt kịp” các hình thức đầu tư và kinh doanh mới, Dự Thảo Luật Sửa Đổi bổ sung một số loại thu nhập chịu thuế như dưới đây:[1]

  • Thu nhập từ hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số;
  • Thu nhập từ hoạt động đại lý, môi giới;
  • Thu nhập từ chuyển nhượng tên miền internet (“.vn”);
  • Thu nhập từ chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon;
  • Thu nhập từ chuyển nhượng biển số xe trúng đấu giá;
  • Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản số, chuyển nhượng vàng miếng.

Đáng chú ý, Dự Thảo Luật Sửa Đổi quy định thu thuế đối với chuyển nhượng tài sản số và vàng miếng với mức thuế suất là 0,1% trên giá chuyển nhượng.[2] Riêng đối với vàng miếng, Quốc hội cũng giao Chính phủ quy định cụ thể ngưỡng giá trị vàng miếng chịu thuế, nhằm loại trừ trường hợp cá nhân mua, bán vàng cho mục đích tiết kiệm, cất giữ, không vì mục đích kinh doanh. Quy định này được kỳ vọng sẽ hạn chế việc đầu cơ vàng và thu hút nguồn vốn tham gia hoạt động sản xuất – kinh doanh.

  • Mở rộng các trường hợp thu nhập được miễn thuế, giảm thuế

Để thống nhất với các chính sách miễn, giảm thuế hiện hành được quy định tại một số luật chuyên ngành khác, đồng thời khuyến khích phát triển các lĩnh vực ưu tiên như kinh doanh, phát triển bền vững và đổi mới sáng tạo, Dự Thảo Luật Sửa Đổi đã mở rộng diện thu nhập được miễn thuế, giảm thuế đối với một số nhóm đối tượng đặc biệt như:[3]

  • Cá nhân, chuyên gia thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hoặc làm việc cho các dự án khởi nghiệp sáng tạo;
  • Các nhà đầu tư cá nhân, chuyên gia làm việc cho dự án khởi nghiệp sáng tạo, sáng lập viên cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, nhà đầu tư cá nhân góp vốn vào quỹ đầu tư mạo hiểm;
  • Chuyên gia nước ngoài làm việc tại các dự án tài trợ bằng nguồn vốn ODA không hoàn lại, chương trình, dự án phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam; người Việt Nam làm việc tại cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế thuộc Hệ thống Liên Hợp Quốc tại Việt Nam; cá nhân tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc;
  • Cá nhân là nhân lực công nghiệp cao thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao hoặc công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển hoặc Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo pháp luật về công nghệ cao;
  • Cá nhân là chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
  • Điều chỉnh căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh

Luật hiện hành quy định đối với cá nhân kinh doanh có mức doanh thu hàng năm từ 100 triệu đồng trở xuống thì không phải nộp thuế TNCN, và việc nộp thuế TNCN sẽ được xác định theo tỷ lệ ấn định trên doanh thu theo từng ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.

Trong Dự Thảo Luật Sửa Đổi, sau khi được chỉnh lý trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các Đại biểu Quốc hội, Bộ Tài chính đã có những điều chỉnh đáng chú ý dưới đây.

  • Về mức doanh thu không phải nộp thuế: được điều chỉnh lên 500 triệu đồng/năm thay cho đề xuất 200 triệu đồng/năm trước đó[4]. Đây cũng là mức được trừ trước khi tính thuế theo tỉ lệ trên doanh thu.[5]
  • Về phương pháp tính thuế: Dự Thảo Luật Sửa Đổi quy định các cá nhân kinh doanh được lựa chọn phương pháp tính thuế theo tỉ lệ trên doanh thu hoặc theo thu nhập nếu có doanh thu trên 500 triệu đồng/năm, giữa hai phương pháp (1) áp dụng tính thuế theo thu nhập tính thuế, được xác định bằng doanh thu – chi phí[6] hoặc (2) nộp thuế trên tỷ lệ doanh thu.[7]
  • Về thuế suất: Thuế suất áp dụng theo thu nhập tính thuế nếu xác định được chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh đối với từng mức doanh thu như sau[8]:
STTDoanh thu nămThuế suất
1Trên 500 triệu đồng đến 3 tỷ đồng15%
2Trên 3 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng17%
3Trên 50 tỷ đồng20%
  • Điều chỉnh biểu thuế lũy tiến từng phần với thu nhập từ tiền lương, tiền công

Luật hiện hành quy định biểu thuế lũy tiến từng phần áp dụng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công với 7 bậc thuế: 5%, 10%, 15%, 20%, 25% và 30%.[9]

Trong quá trình soạn thảo luật mới và sau khi tiếp thu các ý kiến đóng góp của các bên liên quan, Bộ Tài chính điều chỉnh giảm số bậc từ 7 bậc thành 5 bậc và điều chỉnh lại 2 bậc thuế suất của biểu thuế hiện hành, cụ thể là giảm mức thuế suất 15% (ở bậc 2) xuống 10% và thuế suất 25% (ở bậc 3) xuống 20% như sau:[10]

Bậc thuếPhần thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng)Khoảng cách thu nhập trong từng bậc thuế (triệu đồng)Thuế suất (%)
1Đến 10105
2Trên 10 đến 302010
3Trên 30 đến 603020
4Trên 60 đến 1004030
5Trên 100–35

Theo Bộ Tài chính, việc điều chỉnh này giúp tất cả người nộp thuế đều được giảm so với biểu hiện hành, đồng thời tạo cấu trúc thuế hợp lý hơn và đảm bảo điều tiết ở mức cao hơn vào những người có thu nhập ở bậc thuế cao.

  • Điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh và các khoản giảm trừ khác

Đối với mức giảm trừ gia cảnh, Dự Thảo Luật Sửa Đổi quy định chi tiết mức giảm trừ gia cảnh, cụ thể:

  • Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm);
  • Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng.[11]

Để bảo đảm đúng thẩm quyền của Quốc hội đối với các nội dung thuế theo Hiến pháp, Chính phủ được giao trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức giảm trừ dựa trên biến động giá cả và thu nhập từng thời kỳ.[12]

Trong quá trình tiếp thu ý kiến đối với Dự Thảo Luật Sửa Đổi, cũng có ý kiến cho rằng, cần quy định mức giảm trừ gia cảnh theo địa bàn, tức quy định mức ở các đô thị, thành phố lớn cao hơn so với ở khu vực nông thôn, miền núi do chi phí đắt đỏ hơn. Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, việc này sẽ gây phức tạp trong quản lý và vừa qua cũng có sự sắp xếp lại địa giới hành chính, do đó mức giảm trừ gia cảnh nên được áp dụng một mức chung thống nhất mà không phân biệt theo địa bàn.

Đối với các mức giảm trừ khác, Dự Thảo Luật Sửa Đổi bổ sung vào danh mục các khoản giảm trừ thuế TNCN đối với các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế và của người phụ thuộc theo mức do Chính phủ quy định.[13] Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các khoản chi này phải đáp ứng các điều kiện về hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật và không được chi trả từ các nguồn khác.[14]

Nhìn chung, Dự Thảo Luật Sửa Đổi mới được thông qua hướng tới việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế TNCN với những sửa đổi tập trung vào việc mở rộng các loại thu nhập phải chịu thuế, nhóm đối tượng được miễn thuế, cơ cấu biểu thuế và các chính sách khuyến khích hoạt động sản xuất – kinh doanh. Để thích ứng với các quy định mới của luật, người nộp thuế nên chủ động rà soát toàn bộ các khoản thu nhập hiện có và cập nhật kịp thời các thay đổi liên quan đến biểu thuế lũy tiến từng phần, mức giảm trừ và các khoản được miễn thuế theo quy định mới. Đối với cá nhân kinh doanh, cần lưu ý phương pháp tính thuế theo doanh thu, đồng thời kiểm tra và quản lý đầy đủ hóa đơn, chứng từ đầu ra – đầu vào nhằm bảo đảm việc kê khai và nộp thuế được thực hiện thuận lợi khi luật mới có hiệu lực.


[1] Điểm c, d, Khoản 1 và Khoản 10, Điều 3 của Dự Thảo Luật Sửa Đổi.

[2] Khoản 2, Điều 19 của Dự Thảo Luật Sửa Đổi.

[3] Điều 4 và Điều 5 của Dự Thảo Luật Sửa Đổi.

[4] Khoản 1 Điều 7 của Dự Thảo Luật Sửa Đổi.

[5] Khoản 3 Điều 7 của Dự Thảo Luật Sửa Đổi.

[6] Điều 7 của Dự Thảo Luật Sửa Đổi.

[7] Khoản 3, Điều 7 của Dự Thảo Luật Sửa Đổi.

[8] Khoản 2, Điều 7 của Dự Thảo Luật Sửa Đổi.

[9] Khoản 2, Điều 22 của Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009, được sửa đổi, bổ sung tùy từng thời điểm.

[10] Điều 9 của Dự Thảo Luật Sửa Đổi.

[11] Khoản 1, Điều 10 của Dự Thảo Luật Sửa Đổi.

[12] Khoản 2, Điều 10 của Dự Thảo Luật Sửa Đổi.

[13] Khoản 2, Điều 11 của Dự Thảo Luật Sửa Đổi.

[14] Khoản 3, Điều 11 của Dự Thảo Luật Sửa Đổi.

Share